Thứ Tư, 18 tháng 1, 2017

10 lựa chọn ngày hôm nay có thể khiến đàn ông phải hối tiếc trong 10 năm sau

Dùng vỏ bọc để gây ấn tượng với người khác
Nếu bạn luôn luôn xuất hiện trước mặt mọi người với chiếc mặt nạ, một ngày nào đó sẽ không có gì bên dưới lớp mặt nạ đó nữa. Bởi vì khi bạn đã dành quá nhiều thời gian để ý đến nhận xét của người khác về mình, hoặc làm theo những thứ người khác muốn, cuối cùng bạn quên mất thực sự mình là ai. Vì vậy đừng sợ sự phán xét, thật lòng bạn biết mình là ai và cái gì là thật sự quan trọng với bạn. Bạn không cần phải hoàn hảo để gây ấn tượng và truyền cảm hứng cho mọi người. Hãy để họ có ấn tượng và cảm hứng bởi cách bạn đối mặt với sự thiếu hoàn hảo này.
Để người khác tạo ra giấc mơ cho bạn
Thách thức lớn nhất của đời người là tìm ra câu trả lời cho câu hỏi ”tôi là ai?”; thách thức lớn thứ hai là hạnh phúc với những gì bạn tìm thấy. Ý nghĩa chính của điều này là bạn có quyết định làm đến cùng để đạt được mục tiêu và ước mơ của mình không. Có những người không đồng ý với bạn? Tốt. Nó có nghĩa là bạn đang đứng và đi con đường riêng của mình. Đôi khi bạn làm những điều mà người khác cho là điên rồ, nhưng có sao? Miễn là bạn cảm thấy hào hứng và hạnh phúc, đó là lúc bạn biết mình đang làm điều đúng đắn.
Suy nghĩ tiêu cực
Đừng để người có cách sống tiêu cực ảnh hưởng đến bạn. Đừng để sự tiêu cực làm quen và ăn sâu vào suy nghĩ của bạn. Họ không thể bóp cò nếu bạn không giao cho họ khẩu súng. Nhớ rằng sống và suy nghĩ tiêu cực là một sự lựa chọn chứ không phải nghĩa vụ. Hãy giải phóng chính mình để giữ cho tâm bạn sự từ bi thay vì giận dữ, sự rộng lượng thay vì tham lam, kiên nhẫn thay vì lo lắng.
Ích kỷ và tự cao
Cuộc sống đầy lòng yêu thương và đức tính tốt chính là những gì để mọi người mãi nhớ về bạn. Vì vậy, thay vì khắc tên lên bia mộ bằng đá, hãy khắc nó bằng chính trái tim của mình. Những gì bạn làm cho bản thân sẽ chết cùng với bạn nhưng những gì bạn đã làm cho người khác thì còn tồn tại mãi.
Lẩn tránh sự thay đổi, không muốn trưởng thành
Nếu muốn biết quá khứ của mình, hãy nhìn vào hiện tại đang có. Nếu muốn biết tương lai, cũng nhìn vào hiện tại. Bạn phải buông bỏ cái cũ và mở đường cho cái mới; một khi cái cũ đã biến mất, nó sẽ không bao giờ quay trở lại. Nếu bạn thừa nhận điều này và thực hiện các bước để giải quyết nó, bạn sẽ tìm cho mình sự thành công lâu dài.
Vội vã từ bỏ khi mọi thứ bắt đầu khó khăn
Ngay cả khi mọi thứ không diễn ra theo cách bạn mong đợi thì cũng đừng vội chán nản hay bỏ cuộc. Hãy học xem bạn có thể làm được được gì và bước tiếp. Một trong những người tiếp tục tiến bước trong khoảng thời gian khó khăn sẽ giành chiến thắng cuối cùng. Cuộc chiến luôn luôn diễn ra rất xa và rất lâu trước khi có chiến thắng cuối cùng. Đó là một quá trình với những bước tiến nhỏ, quyết định và hành động từng bước xây dựng và cuối cùng dẫn đến giây phút vinh quang của chiến thắng.
Qúa chú ý đến tiểu tiết
Hãy chạm khẽ khàng vào cuộc sống chứ đừng bóp nghẹt nó. Đôi khi bạn phải thư giãn và để cuộc sống diễn ra, ngừng lo lắng và đừng quá chú ý đến tiểu tiết. Học cách buông lỏng một chút trước khi nắm chặt. Hãy hít thở sâu. Sau cơn mưa trời lại sáng, hãy bước tiếp về phía trước. Bạn không biết chính xác nơi bạn đến sẽ như thế nào. Tất cả mọi thứ trong cuộc sống đều có sự sắp xếp hoàn hảo cho dù bạn có lãnh hội được hay không. Đôi lúc hãy giành thời gian để suy ngẫm để kết nối mọi thứ.
Thỏa mãn với những gì chưa xứng đáng với bản thân
Hãy đủ mạnh mẽ để cho đi và đủ khôn ngoan để chờ đợi những gì mà bạn xứng đáng. Đôi khi bạn phải bỏ những điều không xứng với mình và đứng vững để chờ đợi điều mà bạn muốn. Đôi mắt của bạn cần phải được rửa sạch bằng nước mắt để có thể thấy mọi khả năng trước mắt với một tầm nhìn rõ ràng hơn nữa. Đừng thỏa hiệp!
Để mai tính
Vấn đề là bạn luôn nghĩ rằng bạn có nhiều thời gian. Nhưng sẽ có một ngày nào đó bạn thức dậy và không có thời gian để làm việc mà mình luôn muốn nữa. Tại thời điểm đó, hoặc bạn sẽ đạt được mục tiêu mà bạn đặt ra cho mình, hoặc bạn sẽ có một danh sách các lý do lý trấu tại sao không làm được. Hãy lựa chọn đi!
Lười biếng và chờ đợi cơ may sẽ đến
Cuộc đời không nợ ta bất cứ điều gì. Vì vậy, ngừng mơ mộng và bắt tay vào thực hiện đi. Hãy chịu trách nhiệm và kiểm soát cuộc sống của mình. Bạn quan trọng và cần thiết theo một cách nào đó. Quá trễ để ngồi và chờ đợi một người nào đó trong một lúc nào đó làm việc gì đó cho mình. Hãy biến cái “lúc nào đó” thành bây gi. Bạn phải kiểm soát cuộc sống của chính mình.
Nguồn: CafeF

10 sự kiện kinh tế - xã hội nổi bật năm 2016

1. Đại hội lần thứ XII của Đảng thành công tốt đẹp

Đại hội Đảng lần thứ XII diễn ra tại Hà Nội từ 20 đến 28/1/2016. Trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm 30 năm đổi mới theo quyết sách tại Đại hội VI của Đảng và căn cứ tình hình thực tiễn với tầm nhìn cho cả chục năm sau, Đại hội XII đã định ra những đường hướng quan trọng cho một thời kỳ phát triển mới của đất nước với “bốn trụ cột”, trong đó “phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm”, “xây dựng Đảng là then chốt”, “xây dựng văn hóa, con người làm nền tảng tinh thần” và “tăng cường quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên”.

2. Chính phủ mới - Chính phủ kiến tạo

Bộ máy Chính phủ khóa XIV được chính thức kiện toàn vào tháng 7/2016 với thông điệp của tân Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc: Xây dựng Chính phủ liêm chính trong sạch; Kiến tạo phát triển; Hành động quyết liệt phục vụ nhân dân. Đề cao phương châm nói đi đôi với hành động, rút ngắn khoảng cách giữa nói và làm, nói ít làm nhiều và thực chất từ những việc nhỏ nhất.

Chỉ đạo, điều hành của Chính phủ có nhiều điểm mới, toàn diện hơn, quyết liệt hơn, vừa giải quyết các vấn đề tổng thể dài hạn, đồng thời coi trọng các vấn đề cụ thể từ việc xây dựng thể chế đến điều hành, quản lý; nhạy bén, phản ứng, xử lý nhanh đối với các vấn đề phức tạp nảy sinh. 

Lần đầu tiên trong nhiều năm Chính phủ khắc phục cơ bản tình trạng nợ đọng văn bản quy phạm pháp luật; lần đầu tiên Thủ tướng Chính phủ đã thành lập tổ công tác để kiểm tra đôn đốc việc thực hiện các kết luận chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ để tập trung rà soát, phát hiện nhiều vấn đề bất cập, yếu kém để tập trung chỉ đạo giải quyết với tinh thần nói thẳng, nói thật và làm thật...

3. Những thành tựu quan trọng trong hoạt động đối ngoại

Với việc đăng cai tổ chức thành công các hội nghị cấp cao ACMECS-7, CLMV-8, WEF Mekong, tích cực tham gia các diễn đàn khu vực và quốc tế, và triển khai thành công nhiều chuyến thăm ngoại giao song phương quan trọng... trong năm 2016, Việt Nam tiếp tục khẳng định chính sách đối ngoại nhất quán và quyết tâm hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện, góp phần tiếp tục duy trì môi trường hòa bình, ổn định, tạo thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Sự kiện Tổng thống Mỹ Barack Obama có chuyến thăm chính thức Việt Nam đầu tiên trong hai nhiệm kỳ hồi tháng 5/2016 là một trong những sự kiện ngoại giao đáng chú ý trong năm 2016. 

Trong chuyến thăm, ông Obama đã tuyên bố dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí với Việt Nam, quyết định được đánh giá mang tính bước ngoặt trong mối quan hệ Việt - Mỹ. Tình cảm nồng hậu mà người dân Việt Nam dành cho Tổng thống Mỹ suốt chuyến thăm khiến ông Obama phải thốt lên rằng sự thân thiện “đã chạm tới trái tim tôi”.

4. Kinh tế vĩ mô ổn định, GDP tăng dần qua các quý

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2016 ước tính tăng 6,21% so với năm 2015. Trong đó, quý I tăng 5,48%; quý 2 tăng 5,78%; quý 3 tăng 6,56%; quý 4 tăng 6,68%. Mức tăng trưởng năm nay thấp hơn mức tăng 6,68% của năm 2015 và không đạt mục tiêu tăng trưởng 6,7% đề ra. 

Dù vậy, trong bối cảnh kinh tế thế giới không thuận, giá cả và thương mại toàn cầu giảm, trong nước gặp nhiều khó khăn do thời tiết, môi trường biển diễn biến phức tạp, việc đạt được mức tăng trưởng trên được xem là một thành công, khẳng định tính đúng đắn, kịp thời, hiệu quả của các biện pháp, giải pháp của Chính phủ. 

Cũng trong năm qua, tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước tính đạt 1.485,1 nghìn tỷ đồng, tăng 8,7% so với năm 2015 và bằng 33% GDP. Điều này cho thấy, mặc dù tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng song chưa đủ sức đẩy mạnh tăng trưởng do một số lực cản nhất định. 

Kết quả nghiên cứu bước đầu về “Chẩn đoán điểm nghẽn tăng trưởng và Bản đồ năng lực sản xuất của Việt Nam” do Ban Kinh tế Trung ương phối hợp với Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) công bố cuối năm qua cho thấy, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam vẫn chịu 3 nhóm “điểm nghẽn” chính. 

Nhóm 1, trong ngắn hạn, bộ máy hành chính hoạt động chưa hiệu quả, vẫn còn tình trạng lãng phí, tham nhũng, một số chính sách về đất đai chưa phù hợp thực tiễn và chi phí tài chính cao. Nhóm 2, trong trung hạn gồm rủi ro kinh tế vĩ mô và rủi ro thể chế vi mô. Nhóm 3, trong dài hạn là kết cấu hạ tầng và nguồn nhân lực. Năm 2016 Kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định, lạm phát được kiểm soát tốt, đạt chỉ tiêu CPI dưới 5%.

5. Năm bùng nổ về phát triển doanh nghiệp

Cùng với sự kiện Văn kiện Đại hội Đảng XII lần đầu tiên chính thức xác định khu vực kinh tế tư nhân đóng vai trò là một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, là sự vào cuộc của Chính phủ mạnh mẽ nhất trong nhiều năm qua vực dậy khu vực kinh tế này. Ngay khi được Quốc hội bầu làm Thủ tướng vào tháng 4/2016, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã triệu tập Hội nghị Thủ tướng với doanh nghiệp, với sự tham gia của doanh nghiệp ở tất cả các thành phần kinh tế. 

Sau hội nghị này, lần đầu tiên có một Nghị quyết riêng cho doanh nghiệp được ban hành mang tên nghị quyết 35 nhấn mạnh doanh nghiệp là đối tượng để phục vụ. Tất cả các doanh nghiệp đều bình đẳng, không phân biệt loại hình, thành phần kinh tế trong cơ hội tiếp cận các nguồn lực và đầu tư kinh doanh. Chính phủ cũng phát đi thông điệp cởi trói tối đa cho doanh nghiệp, đồng thời tuyên chiến không khoan nhượng với giấy phép con, lợi ích nhóm... 

Kết quả của một loạt hành động trên đã đưa năm 2016 trở thành năm bùng nổ về phát triển doanh nghiệp. Kỳ tích đã được thiết lập khi lần đầu tiên, trong năm 2016, Việt Nam có 110.100 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 16,2% so với năm 2015. Số vốn cam kết đưa vào thị trường là 891.094 tỷ đồng, đạt tỷ trọng 8,09 tỷ đồng cho mỗi doanh nghiệp thành lập mới; tăng 48,1% so cùng kỳ năm 2015. Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động là 26.689 doanh nghiệp, tăng 43,1%.

6. Rút vốn nhà nước của các “ông lớn”

Điểm nhấn đáng chú ý nhất của quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước năm 2016 là sự rút lui của Nhà nước tại nhiều doanh nghiệp lớn. Trong đó, thương vụ đấu giá cổ phần của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk) được giới quan sát đặt nhiều kỳ vọng và cũng ngậm ngùi thất vọng. 

Kết quả cuộc đấu giá thành công ngày 12/12 cho thấy, chỉ có 60% cổ phần chào bán đã được mua với mức giá 144.000 đồng/cổ phần. Cụ thể, số lượng cổ phần chào bán thành công là 78.378.300 cổ phần, tương ứng 5,4% vốn điều lệ VNM trong tổng lô chào bán 9% của SCIC. Như vậy, tổng giá trị cổ phần bán ra khoảng 11.386 tỷ đồng, tương đương gần 500 triệu USD.

Vinamilk chỉ là một trong số 10 “ông lớn” được Chính phủ quyết định thoái hoàn toàn vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Kế hoạch này được đặt ra từ cuối năm 2015 song đến nay, những doanh nghiệp còn lại vẫn đang trong quá trình chuẩn bị. 

Dù vậy, nỗ lực thoái vốn đầu tư ngoài ngành năm qua cũng đã đạt những kết quả tích cực. Cụ thể, năm 2016, các đơn vị đã thoái được 3.646 tỷ đồng, thu về 6.840 tỷ đồng. Nếu tính cả phần vốn thu về từ cuộc đấu giá cổ phần Vinamilk thì tổng số tiền Nhà nước nhận được là hơn 18.200 tỷ đồng. 

Về cổ phần hóa, năm 2016 đã có 56 doanh nghiệp được cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án cổ phần hóa. Tổng giá trị thực tế của 56 doanh nghiệp đã được phê duyệt phương án cổ phần hóa là 34.017 tỷ đồng, trong đó giá trị thực tế phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp là 24.390 tỷ đồng.

7. Formosa gây sự cố ô nhiễm môi trường biển

Tháng 4 năm 2016, Công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (FHS) đã gây ra sự cố ô nhiễm môi trường biển tại 4 tỉnh miền Trung. Sự cố này gây ra hậu quả lớn về kinh tế, xã hội, môi trường trước mắt và lâu dài; đã ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành đánh bắt, nuôi trồng, chế biến thủy, hải sản, làm muối, dịch vụ hậu cần nghề cá, du lịch; đồng thời đã làm xáo trộn, gây mất an ninh trật tự, tâm lý bức xúc, bất an trong nhân dân. 

Sau sự cố, Formosa đã thừa nhận hành vi vi phạm, bồi thường thiệt hại cho Chính phủ Việt Nam số tiền 500 triệu USD; đồng thời triển khai các biện pháp để khắc phục các vi phạm.

Qua sự cố môi trường lớn này cũng như thực trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam hiện nay đặt ra vấn đề cấp bách bảo vệ môi trường, đảm bảo phát triển bền vững, đòi hỏi phải thay đổi tư duy phát triển, tăng trưởng kinh tế phải gắn với bảo vệ môi trường, bảo vệ môi trường phải được xác định là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển. 

Đó chính là việc chú trọng tiêu chí môi trường trong lựa chọn các dự án đầu tư, không cho phép đầu tư các dự án, các loại hình sản xuất ô nhiễm môi trường, nhất là dự án tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường ở các vùng nhạy cảm.

8. Khởi động cuộc chiến chống tham nhũng quyền lực

Đầu tháng 11 Ban Bí thư Trung ương Đảng dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã họp và thống nhất 100% bằng phiếu kín quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức cách chức Bí thư Ban cán sự đảng Bộ Công Thương trong thời gian 2011-2016 đối với ông Vũ Huy Hoàng, nguyên ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Ban cán sự Đảng, nguyên Bộ trưởng Công Thương. 

Cùng trong tháng 11 Quốc hội cũng đã ra Nghị quyết phê phán nghiêm khắc ông Vũ Huy Hoàng trước cử tri cả nước do đã có những vi phạm về công tác cán bộ trong thời gian đảm nhiệm chức vụ Bộ trưởng Bộ Công Thương, gây hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng, Nhà nước, Bộ Công Thương, gây bức xúc trong xã hội. 

Đây được xem là sự kiện chống tham nhũng đáng chú ý nhất năm và báo hiệu sự khởi đầu cho cuộc chiến chống tham nhũng quyền lực ở cấp cao. Năm 2016 còn được xem là năm những cuộc chạy trốn ra nước ngoài của những lãnh đạo phạm tội. Ngoài Trịnh Xuân Thanh, Vũ Đình Duy còn có Lê Chung Dũng - nguyên Phó tổng giám đốc PV Power.

9. Thiên tai gây thiệt hại 1,7 tỷ USD

Tác động của biến đổi khí hậu đã gây ra nhiều hiện tượng thiên tai cực đoan ở Việt Nam, không chỉ khiến 235 người chết trong năm 2016 mà còn gây thiệt hại nặng nề cho sản xuất nông lâm ngư nghiệp. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ước tính tổng thiệt hại toàn ngành do thiên tai trong năm vừa qua lên đến 37.650 tỷ đồng (tương đương 1,7 tỷ USD) - đây là con số cao nhất từ trước tới nay. 

Những tháng đầu năm, nhiều vùng miền đã trải qua nạn hạn hán khốc liệt nhất từ trước tới nay. Hậu quả là ở vùng ĐBSCL có 11/13 tỉnh bị ảnh hưởng xâm nhập mặn, với 405.000 ha lúa và hoa màu, 28.500ha cây ăn quả, 82.000 ha diện tích tôm nuôi bị mất trắng... Khu vực Tây Nguyên cũng đã có 157.000 ha đất nông nghiệp bị hạn. 

Ở khu vực duyên hải Nam Trung Bộ, hạn hán cũng đã khiến 40.500 ha lúa phải dừng sản xuất, 36.000 ha cây trồng khác bị hạn... Từ giữa tháng 10 đến giữa tháng 12/2016, các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên đã gặp liên tiếp 5 đợt mưa lũ lớn trên diện rộng với cường độ cực đoan, gây ra lũ chồng lũ ở nhiều tỉnh. 

Tính riêng 5 đợt này, đã khiến 111 người chết và mất tích, hơn 316.000 ngôi nhà, hơn 42.800 ha lúa, 39.000 ha hoa màu bị ngập hư hại. Ngày 26/4/2016, Chính phủ công bố Kế hoạch ứng phó khẩn cấp của Chính phủ và Liên hợp quốc cần 48,5 triệu USD. Trong năm đã huy động được 26,4 triệu USD, đáp ứng 54,4% kế hoạch ứng phó khẩn cấp, trong đó nguồn lực quốc tế huy động được 18,4 triệu USD.

10. Ngành văn hóa, thể thao và du lịch thăng hoa

Với tổng điểm 202,5 ở chung kết nội dung 10m súng ngắn hơi nam, xạ thủ Hoàng Xuân Vinh đã đi vào lịch sử khi trở thành vận động viên đầu tiên của Việt Nam giành Huy chương vàng tại kỳ Olympic; vận động viên Lê Văn Công phá kỷ lục Paralympic, dành huy chương vàng môn cử tạ. 

Cùng với tấm huy chương mang tầm cỡ thế giới của Hoàng Xuân Vinh là sự kiện “kình ngư” Nguyễn Thị Ánh Viên không có đối thủ trên đường đua xanh tại Đông Nam Á khi giành tới 8 huy chương vàng tại sự kiện thể thao lớn nhất khu vực. Sau đó nữ vận động viên này đã phá kỷ lục Giải bơi vô địch châu Á với thành tích 4 phút 37 giây 71 và dành huy chương vàng 400 m cá nhân hỗn hợp. 

Năm 2016, đội tuyển bóng đá U19 Việt Nam làm nên chấn động ở giải U19 châu Á và giành quyền tham dự U20 World Cup. Đây là lần đầu tiên bóng đá Việt Nam giành vé tham dự một giải đấu tầm thế giới. Liên đoàn bóng đá thế giới (FIFA) đã gửi lời chúc mừng đến người hâm mộ Việt Nam. 

Năm 2016 là năm đầu tiên các danh lam, thắng cảnh của Việt Nam được nhà làm phim Hollywood đưa vào các cảnh quay trong bộ phim bom tấn của mình; cũng là năm Việt Nam có thêm 3 di sản thế giới được vinh danh. Đây còn là năm đầu tiên ngành du lịch đón được vị khách thứ 10 triệu, một sự kiện có ý nghĩa lịch sử đặc biệt quan trọng trong hành trình 56 năm phát triển của ngành du lịch Việt Nam.
Nguồn: vneconomy

Thứ Năm, 5 tháng 1, 2017

Economic data

Thời gian gần đây tôi nhận được rất nhiều comment trên blog và email của các bạn sinh viên hỏi xin số liệu kinh tế. Mặc dù có một số request không thực sự nghiêm túc, đa số các bạn đều hiểu mình làm gì và cần dữ liệu gì. Đây là dấu hiệu tốt vì nó chứng tỏ chất lượng đào tạo kinh tế đang được cải thiện và các bạn sinh viên đang dần dần tiếp cận với những lý thuyết và mô hình định lượng rất tiên tiến chứ không chỉ viết "essay" như trước. Đáng tiếc là tôi không thể đáp ứng được hầu hết request của các bạn vì hai lý do sau.

Thứ nhất nguồn số liệu mà tôi sử dụng (từ Datastream của Thomson Reuters) có bản quyền nên tôi không thể công bố rộng rãi. Trước đây tôi đã để link cho các bạn download số liệu GDP và REER của VN, mặc dù không hoàn toàn legal nhưng có thể justify được phần nào vì thực ra những số liệu đó được TCTK công bố công khai trên website và các ấn phẩm của họ. Hơn nữa đó là những số liệu liên quan trực tiếp đến những bài viết mà tôi công bố (về potential GDP và REER) nên theo truyền thống của giới academic quốc tế những số liệu đó cần phải được công khai để người đọc có thể kiểm tra lại kết quả tính toán của tôi nếu họ muốn. Thứ hai là ngay cả Datastream và các dịch vụ số liệu chuyên nghiệp cũng có nhiều hạn chế về số liệu kinh tế VN, cả về số lượng lẫn chất lượng. Tôi đã từng chỉ ra số liệu về lãi suất qua đêm liên ngân hàng của Datastream khác xa số liệu của NHNN. Một số sai lệch khác về số liệu lạm phát của Datastream so với TCTK cũng đã từng làm tôi đau đầu. Bởi vậy ngoại trừ những chuối số liệu phổ biến và có chất lượng tương đối tốt, tôi sẽ phải mất rất nhiều thời gian browse/search Datastream và các nguồn khác để tìm các chuỗi số liệu đặc thù mà một số bạn request, điều này ngoài khả năng của tôi.
Nói như vậy không có nghĩa tôi sẽ không giúp các bạn tìm số liệu cho những nghiên cứu định lượng của mình, thực ra tôi rất khuyến khích các bạn đi theo hướng nghiên cứu này vì đó là cách học kinh tế rất thực dụng và hữu ích. Tôi cũng rất thấu hiểu những khó khăn về số liệu mà các bạn đang phải đối đầu, tôi đã từng là sinh viên như các bạn. Trong entry này tôi muốn truyền lại một số kinh nghiệm của bản thân thời còn đi học để các bạn có thể tự tìm kiếm số liệu trước khi phải nhờ một ai đó, tôi luôn cho rằng kỹ năng và kiến thức về nguồn số liệu là những điều rất căn bản mà sinh viên kinh tế cần học.

Điều đầu tiên trước khi bạn bắt tay tìm kiếm số liệu là phải hiểu thật rõ mô hình lý thuyết mà mình định ước lượng. Cần hiểu kỹ các lý thuyết đằng sau nó và các mối quan hệ giữa các biến số. Điều này quan trọng vì hầu hết các số liệu thống kê thực tế không bao giờ trùng với khái niệm lý thuyết nên hiểu kỹ lý thuyết vừa giúp các bạn tránh chọn sai số liệu vừa giúp mở rộng tập hợp các số liệu có khả năng thay thế chuỗi số liệu mình không thể tìm được. Lấy ví dụ bạn có một mô hình cần sử dụng M3, tuy nhiên VN không có thống kê M3 nên bạn cần cân nhắc mô hình lý thuyết để xem thay M2 hay total credit vào mô hình đó liệu có được không. Hiểu mô hình lý thuyết còn giúp các bạn chọn instrument variables cho một số phương pháp econometric đặc thù.
Vấn đề thứ hai cần quan tâm là phải/nên hiểu bản chất và cách thức dữ liệu được thu thập/compile. Thực ra theo tôi đãy là thiếu sót của hầu hết các chương trình đào tạo kinh tế (cả ở các trường đại học nước ngoài) khi không dạy cho sinh viên về các thống kê kinh tế chủ yếu (cách thức thu thập, tính toán, hiệu chỉnh mùa vụ...). Hiểu được bản chất của chuỗi dữ liệu giúp bạn định hình được nó có thực sự phù hợp với mô hình định lượng của mình hay không. Nếu chạy mô hình xong kết quả không như mong đợi hoặc khác với kết quả của những nghiên cứu (ở các nước khác) thì đó là do dữ liệu hay do phương pháp tính toán của mình có sai sót. Có những bạn hỏi xin tôi số liệu về output gap, inflation expectation hay equity risk premium, cho thấy sự mơ hồ về chuỗi số liệu trong mô hình của mình. Hoặc những câu hỏi về đơn vị của REER, làm thế nào để chuyển năm gốc cho một chuối số liệu thực, có bao nhiêu loại hàng hóa trong rổ tính CPI, có thể tìm số liệu GDP theo tháng hay không, cũng cho thấy các bạn chưa thực sự quan tâm tìm hiểu về chuỗi số liệu của mình. Cần nhớ một nửa của kinh tế học là số liệu thống kê.

Với các bạn đang học undergraduate thì nguồn số liệu đầu tiên bạn phải nghĩ đến là thư viện trường mình (và các trường khác nếu bạn có thể tiếp cận được). Thời buổi mọi thứ được số hóa như hiện nay, có lẽ khó có thể nghĩ đến việc mất vài ngày thậm chí vài tuần vào lục thư viện và gõ lại số liệu vào máy tính, nhưng đó là những gì tôi đã làm khi còn đi học. Rất may là ngày nay thư viện đã và đang chuyển dần sang hình thức điện tử. Tôi biết các thư viện ở VN có rất ít resource nhưng các bạn vẫn nên tìm hiểu, hỏi các thủ thư xem họ có giúp được gì không. Một số database quốc tế về dữ liệu và tạp chí chuyên ngành cho phép thư viện của các trường đại học truy cập miễn phí, nhất là từ các nước đang phát triển. Các bạn (sinh viên và giáo viên) nên góp ý với thư viện trường mình lập danh sách những database nào họ có access để giúp sinh viên dễ dàng tìm kiếm số liệu.



Nguồn số liệu kinh tế tiếp theo là website của các cơ quan quản lý và thống kê quốc gia như TCTK, NHNN, BTC của VN. Những năm gần đây các cơ quan này đã có rất nhiều tiến bộ trong việc công bố thông tin, tôi rất mong họ sẽ tiếp tục xây dựng website tốt hơn nữa (có thể học tập template trên website của WB và IMF) và cung cấp thêm nhiều thông tin hơn nữa. [Một điểm tôi mong muốn các website này cải thiện là họ nên có một section về education cho đại chúng như các website của Fed, ECB, OECD]. Các bạn sinh viên nên bỏ một chút thời gian tìm hiểu cấu trúc và các ngóc ngách trên các trang web nói trên, nhất là website của TCTK. Nếu các bạn thực sự quan tâm đến số liệu và có ý định làm nghiên cứu định lượng, nên download số liệu về máy tính của mình và thỉnh thoảng cập nhận những database cá nhân này. Một skill quan trọng của các analyst trong lĩnh vực finance là phải nhớ được khi nào các cơ quan thống kê (cả nhà nước và tư nhân) release những thông số quan trọng (GDP, CPI, PMI, unemployment rate...).

Nguồn dữ liệu thứ ba là các website của các tổ chức quốc tế, vd WB, IMF, ADB, BIS, ILO, OECD. Trong số các tổ chức này, IMF có nhiều thông tin nhất và là tổ chức duy nhất có số liệu quí và tháng cho một số chỉ số quan trọng. IMF có một số database mà sinh viên từ các nước đang phát triển có thể truy cập miễn phí như IFS, DOTS, COFER, các bạn cần tìm hiểu và đang ký tài khoản để lấy số liệu. Rất tiếc vì tôi không thuộc diện được access miễn phí nên tôi không thử và hướng dẫn các bạn được, tuy nhiên đã có nhiều bạn confirm đã access thành công từ VN. Nếu có khó khăn gì các bạn thử liên hệ với văn phòng của IMF ở VN xin giúp đỡ, tôi tin họ sẽ rất nhiệt tình. Các bạn ở HN có thể đến thẳng văn phòng IMF và xin truy cập số liệu từ đó. UNDP và ADB cũng có văn phòng ở HN, nguồn số liệu trên website của ADB cũng rất tốt tuy chỉ có annual data.

Đối với số liệu nước ngoài, nhất là các nước phát triển, ngoài các nguồn quốc tế như IMF, OECD, các bạn có thể vào website của central bank của họ để tìm thông tin. Ví dụ website của FED, ECB, RBA, BOE, BOJ, ngay cả Bank of Thailand hay People Bank of China cũng có rất nhiều số liệu kinh tế. Một số nguồn không chuyên khác có số liệu tốt dù không nhiều/dài như CIA FactbookThe Economist Indicators(không phải EIU cần có tài khoản). Cuối cùng tất nhiên là Dr. Google và Google Scholar, người bạn không thể thiếu cho những người làm nghiên cứu.

Một số links số liệu quan trọng

Tổng cục Thống kê: Đây là nguồn quan trọng nhất cho các bạn sinh viên, ngoài các thông số kinh tế hàng tháng (chọn tháng trên dropdown menu có thể lấy được rất nhiều số liệu từ năm 2004) các bạn có thể xem số liệu năm trong mục "Số liệu thống kê" và số liệu của các cuộc điều tra kinh tế xã hội lớn (mục "Các cuộc điều tra").
Ngân hàng Nhà nước: Ngoài những chỉ số chính sách tiền tệ căn bản như các loại lãi suất chính sách và tỷ giá bình quân liên ngân hàng (reference rate), mục "Thị trường tiền tệ" có các thống kê về VNBOR, hoạt động thị trường mở và đấu thầu trái phiếu chính phủ. Một địa chỉ nữa cho các bạn quan tâm đến tài chính, tiền tệ là Bảo hiểm Tiền gửi Việt nam, mặc dù hiện tại chưa có nhiều số liệu.
Bộ Tài chính: Mục "Ngân sách nhà nước" có thống kê về ngân sách, chi thu của VN, ngoài ra còn có thông tin về các dự án ODA và đặc biệt là Bản tin nợ nước ngoài rất hữu ích. Số liệu về ngân sách nhà nước cũng có thể tra cứu trên website của Chinh phủ.
Bộ Lao động Thương binh và Xã hội: Mục Dữ liệu của bộ này có rất nhiều thông tin, chủ yếu kết quả của các cuộc khảo sát xã hội, rất có ích cho những bạn quan tâm đến labor market và các vấn đề xã hội. Đa số dữ liệu được cung câp dưới dạng bảng Excel khá tiện dụng.
Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn: Mặc dù một số trang trên website của bộ này bị lỗi và còn nhiều tài liệu không dùng Unicode, mục Thống kê - Dự báo có rất nhiều thông tin quan trọng. Tôi tìm thấy thống kê về khí tượng thủy văn của VN ở đây chứ không phải trên website của Bộ Tài nguyên Môi trường.
Bộ Công Thương: Mục Thống kê của bộ này rất tốt, số liệu xuất nhập khẩu khá chi tiết (các bạn có thể update bảng số liệu REER/NEER mà tôi cung cấp trước đây bằng số liệu xuất nhập khẩu từ trang web này). Phần thông tin về vốn đầu tư cũng khá chi tiết.
[Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài nguyên Môi trường, Bộ Khoa học Công nghệ là những bộ tôi rất thất vọng vì không có các cơ sở dữ liệu/thống kê chuyên ngành đáng ra phải có.]

IMF: Như đã nói bên trên, IMF có một số database rất quan trọng về kinh tế vĩ mô, theo tôi được biết họ cung cấp miễn phí cho các nước đang phát triển nên các bạn ở VN có thể truy cập được. Những database quan trọng là WEO, IFS, DOTS, BOPS, GFS. Ngoài ra trong chuyên mục Vietnam and the IMF cũng có rất nhiều thông tin. Khi còn là sinh viên và không có truy cập vào IFS tôi thường xuyên vào chuyên mục này lấy số liệu của VN từ các Staff Report và Statistical Appendixes do văn phòng IMF Vietnam công bố hàng năm. Trong chuyên mục này cũng có rất nhiều bài nghiên cứu quan trọng về VN của các chuyên gia IMF. Năm ngoái có một bài về Output gap của VN sử dụng Bayesian estimation những bạn quan tam về vấn đề này nên tham khảo. IMF website là nguồn số liệu tất cả sinh viên kinh tế bắt buộc phải biết.

WB: Cách đây mấy năm WB đã cho access miễn phí vào tất cả các database của họ (thời tôi đi học chỉ được access vào World Development Indicators). Số liệu của WB rất rộng và họ bắt đầu có các chuỗi số liệu theo quí (trước đây chỉ có số liệu theo năm). Đây cũng là nguồn số liệu bắt buộc cho sinh viên kinh tế.
ADB: Số liệu của tổ chức này rất tốt, tiếc là cũng chỉ có annual data như WB. Chuyên mục Key Indicators có rất nhiều bảng Excel số liệu được update hàng năm (và có lẽ là data source duy nhất lưu trữ theo vintage, nghĩa là các version khác nhau hàng năm).
UNDP: Tổ chức này có một database quan trọng liên quan đến chỉ số Human Development Indicator được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu kinh tế.
UNCTADSTAT: Database của Unctad, một tổ chức thuộc UN tương tự như UNDP, chuyên về trade data. Số liệu ngoại thương ở database này (cho VN) tương đương như của Bộ Công thương và DOTS của IMF tôi trích dẫn bên trên.
BIS: Mặc dù không có nhiều số liệu về VN, đây là địa chỉ quan trọng cho những bạn quan tâm đến số liệu banking and finance quốc tế.
OECD: database này chủ yếu phục vụ cho các thành viên của OECD nhưng có rất nhiều chỉ số quốc tế (một số phải trả tiền).
FRED (của Fed St Louis): Trong số các website của các ngân hàng trung ương, đây là database lớn nhất và uy tín nhất với gần như toàn bộ số liệu macro của Mỹ, có những chuỗi dài gần 100 năm. Database này cũng có số liệu của một số nước phát triển khác. Ngoài ra Fed còn có một số data tại địa chỉ này và hầu hết các chi nhánh Fed khác cũng cung cấp dữ liệu (NYKansasSan FranciscoChicagoCleveland).
Các central banks lớn khác như ECBBoEBoJRBA, tuy nhiên số liệu chủ yếu cho các nước của họ.

Pen World Table: một nguồn số liệu về national account tính theo PPP cho gần như tất cả các nước. Đây là một database lâu đời và rất uy tín trong giới học thuật tuy nhiên số liệu update chậm hơn so với nguồn WB và IMF.
The World Top Income Database: số liệu về VN đang được thu thập, hi vọng sẽ có sớm.
Economagic.com: số liệu của Mỹ và một số của Úc, ECB, BoJ
Knoema.com: số liệu kinh tế xã hội quốc tế, có khá nhiều số liệu thú vị về VN.
UN Trade data: số liệu thương mại của các nước, đặc biệt là Comtrade databasedatabase cho từng mặt hàng
UN Economic Statistics: số liệu kinh tế tổng hợp của các nước
Một số nguồn dữ liệu tài chính
Damodaran: GS Aswarth Damodaran (NYU) cung cấp một database rất lớn về số liệu của các công ty đại chúng (US and non-US, trong đó có một số công ty VN). Website này còn cung cấp một số spreadsheet tính toán liên quan đến valuation rất hữu ích cho các bạn sinh viên tài chính.
Nguồn: kinhtetaichinh.blogspot - giangle blog

Thứ Tư, 4 tháng 1, 2017

Kinh tế học phúc lợi (Welfare economics)

Bộ môn kinh tế học nghiên cứu những vấn đề tiêu chuẩn, cách thức hoạt động kinh tế để làm cho phúc lợi kinh tế đạt giá trị tối đa. Mục đích của nó không phải mô tả sự hoạt động của nền kinh tế mà là đánh giá về mặt giá trị trên các mặt: hoạt động, sản xuất, tổ chức sản xuất, phân phối của cải và thu nhập, hiện tại và tương lai để có phúc lợi tối đa. Kinh tế học phúc lợi lấy phúc lợi kinh tế của mọi thành viên trong xã hội làm đối tượng nghiên cứu. Có hai giai đoạn: Kinh tế học phúc lợi cũ, đại biểu là Pigu (A. C. Pigou) nhà kinh tế học người Anh, ra đời từ 1920; và Kinh tế học phúc lợi mới xuất hiện từ những năm 30 thế kỉ 20. Phúc lợi là hiệu quả sử dụng đạt được hoặc mức thoả mãn của cá nhân có thể so sánh được về số lượng giữa các cá nhân. Phúc lợi kinh tế là bộ phận có thể tính toán được bằng tiền. Kinh tế học phúc lợi mới coi hiệu quả sử dụng các loại sản phẩm lớn hay nhỏ không thể biểu hiện bằng số lượng mà bằng số thứ tự: thứ nhất, thứ hai...; mức độ hiệu quả sử dụng được biểu hiện thông qua mức độ thị hiếu và thu nhập của mỗi người đối với sản phẩm, làm cho phúc lợi thu được đạt giá trị tối đa, phúc lợi xã hội nói chung cũng đạt mức tối đa. Các nhà kinh tế cổ điển coi tiện ích là thước đo sự thoả mãn của người tiêu thụ, song mỗi người có những ưu tiên tiện ích khác nhau; cho nên phải tìm ra những đánh giá phúc lợi tăng hay giảm, mà không so sánh tiện ích giữa các cá nhân. Tiêu chuẩn đơn giản mà Paretô V. (V. Pareto) đưa ra là bất cứ sự phân bố tài nguyên nào làm thay đổi hàng hoá được sản xuất hay sự phân phối chúng cho người tiêu thụ, có thể xem là sự cải tiến, nếu nó không làm cho một số người khá lên mà một số người khác lại kém đi. Theo thuyết Kinh tế học phúc lợi, chất lượng của hoạt động kinh tế được xem xét dưới góc độ bình đẳng và hiệu quả. Có sự bình đẳng theo chiều ngang khi có sự đối xử giống nhau đối với những người giống nhau. Có sự bình đẳng theo chiều dọc khi sự đối xử khác nhau đối với những người khác nhau nhằm làm giảm hậu quả của những sự khác biệt bẩm sinh. Để tính được hiệu quả kinh tế và chất lượng đời sống, người ta sử dụng một thước đo gọi là "phúc lợi kinh tế ròng". Người ta tìm cách đánh giá tổng sản phẩm quốc dân một cách chính xác hơn bằng cách sửa chữa những nhược điểm trong cách tính tổng sản phẩm quốc dân (GNP) như loại trừ những khoản quan trọng của tiêu dùng "thực sự" (như thời giờ nhàn rỗi) và bao gồm nhiều khoản không phải là tiêu dùng (như quốc phòng, những khoản chi tiêu cần thiết khác đáng tiếc ...). Thước đo phúc lợi kinh tế ròng tính cả các nhân tố tác động bên ngoài đến đời sống và GNP. Phương pháp học Kinh tế học phúc lợi khá phức tạp, song nền kinh tế phúc lợi đang gia tăng nên cần đánh giá những thay đổi kinh tế, đặc biệt là những vấn đề gây ô nhiễm môi trường, làm lợi cho một số người mà làm hại đến nhiều người khác. Nguyên tắc mà một số chính phủ đề ra "kẻ gây ô nhiễm phải trả đền bù" để khắc phục hậu quả, là một phương pháp để so sánh tiện ích giữa các cá nhân, can thiệp vào thị trường theo thuyết Kinh tế học phúc lợi. Thuyết Kinh tế học phúc lợi mang bản chất kinh tế học tư sản, xem nhẹ và che đậy sự khác biệt về phúc lợi giữa các tầng lớp, giai cấp, không tính đến tính chất xã hội của các chế độ kinh tế khác nhau.
Nguồn: http://pedia.vietstock.vn/terms/termdetail.aspx?id=1205

Chủ Nhật, 18 tháng 10, 2015

Giá ô tô nhập khẩu sau TPP

Giá ôtô nhập khẩu sẽ giảm bao nhiêu?

18/10/2015 11:14 GMT+7
TT - Giá ôtô nhập khẩu từ các nước thành viên TPP được dự báo sẽ giảm so với hiện nay sau khi lộ trình giảm thuế với ôtô được áp dụng.
Xe cộ trên một tuyến đường Hà Nội  - Ảnh: Reuters
Xe cộ trên một tuyến đường Hà Nội  - Ảnh: Reuters
Theo dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật thuế vừa được Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 16-10, mức thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) đề xuất rất cao đối với các loại ôtô có dung tích xilanh lớn.
Đồng thời, Chính phủ đề nghị Quốc hội cho phép giảm sâu mức thuế suất thuế TTĐB đối với các dòng xe dùng ít nhiên liệu.
Cụ thể, thuế TTĐB đối với ôtô chở người dưới chín chỗ, đề nghị giảm mức thuế suất thuế TTĐB đối với dòng xe ưu tiên phát triển có dung tích xilanh dưới 2.000cm3 cùng với việc phân chia thành ba nhóm nhỏ: loại có dung tích xilanh từ 1.000cm3 trở xuống (giảm mức thuế suất 45% xuống còn 25% kể từ 1-7-2016 và 20% kể từ đầu năm 2018).
Loại có dung tích xilanh từ trên 1.000cm3 đến 1.500cm3 (45% xuống 30% từ ngày 1-7-2016 và còn 25% từ đầu năm 2018).
Loại có dung tích xilanh từ trên 1.500cm3 đến 2.000cm3 (từ 45% xuống 40% từ ngày 1-7-2016 và còn 30% từ đầu năm 2018). Đối với loại xe có dung tích xilanh trên 2.000cm3, tăng từ 50% lên 60% từ ngày 1-7-2016 và 55% từ đầu năm 2018.
Tăng thuế suất thuế TTĐB ở mức cao và đặc biệt cao đối với các dòng xe trên 3.000cm3 hiện nay đang áp dụng mức thuế suất 60%, sẽ phân chia thành bốn nhóm nhỏ và tăng thuế từ ngày 1-7-2016: loại có dung tích xilanh trên 3.000cm3 đến 4.000cm3 áp mức thuế suất 90%, loại có dung tích xilanh trên 4.000cm3 đến 5.000cm3 là 110%, loại có dung tích xilanh trên 5.000cm3 đến 6.000cm3 là 130%, loại có dung tích xilanh trên 6.000cm3 là 150%.
Với mức thuế TTĐB như hiện nay, một chiếc xe giá 20.000 USD có dung tích xilanh 2.0L nếu nhập về VN sau khi chịu 60% thuế nhập khẩu, 45% thuế TTĐB, 10% thuế VAT, sẽ có giá 51.040 USD khi đến tay người tiêu dùng.
Nhưng kể từ ngày 1-7-2016 khi chịu mức thuế TTĐB mới, cũng chiếc xe này sau khi nhập khẩu về VN sẽ chịu mức thuế nhập khẩu 50%, cộng thêm 40% thuế TTĐB và 10% VAT giá xe khi đến tay người tiêu dùng chỉ còn 46.200 USD, giảm 4.840 USD.
Một khi thuế nhập khẩu về 0% (nếu đáp ứng các điều kiện TPP), dù có phải chịu các loại thuế phí khác, giá ôtô nhập khẩu từ các nước thành viên TPP được dự báo sẽ giảm so với hiện nay sau khi lộ trình giảm thuế với ôtô được áp dụng.
Ngoài ra, đến năm 2018, thị trường ôtô VN sẽ lần lượt tham gia các lộ trình cắt giảm thuế nhập khẩu ôtô từ các quốc gia thành viên ASEAN (xuống 0%) và ASEAN+3 (Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản) với mức thuế phổ biến 5%.
Ngay từ thời điểm đó, các doanh nghiệp ôtô VN phải chấp nhận một thực tế là các loại ôtô nhập khẩu sẽ đổ vào thị trường VN nhiều hơn, cạnh tranh gia tăng và giá cả phải phù hợp hơn nếu muốn tồn tại.
                                                                                                                               Nguồn: Báo Tuổi trẻ

Chủ Nhật, 6 tháng 9, 2015

Doanh Nghiệp sẽ bị khống chế lãi vay từ năm 2016

TT - Không phải toàn bộ chi phí lãi vay của doanh nghiệp (DN) đều được khấu trừ mà tới đây sẽ bị khống chế theo một tỉ lệ nhất định so với vốn chủ sở hữu trước khi tính thuế thu nhập DN. 
Theo Bộ Tài chính, việc khống chế chi phí lãi vay được khấu trừ sẽ hạn chế các doanh nghiệp vay quá nhiều vốn nhưng hoạt động không hiệu quả. Trong ảnh: Một dự án căn hộ tại quận 2, TP.HCM bị bỏ dở dang từ nhiều năm nay - Ảnh: Hữu Khoa
Theo Bộ Tài chính, việc khống chế chi phí lãi vay được khấu trừ sẽ hạn chế các doanh nghiệp vay quá nhiều vốn nhưng hoạt động không hiệu quả. Trong ảnh: Một dự án căn hộ tại quận 2, TP.HCM bị bỏ dở dang từ nhiều năm nay - Ảnh: Hữu Khoa
Đây là một trong những nội dung vừa được Bộ Tài chính đề xuất đưa vào dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật thuế, dự kiến sẽ được trình Quốc hội vào tháng 10 và bắt đầu áp dụng từ ngày 1-1-2016.
Cụ thể, từ ngày luật có hiệu lực đến hết năm 2018, tỉ lệ vốn vay trên vốn chủ sở hữu đối với lĩnh vực sản xuất là 5 lần (5:1) và các lĩnh vực còn lại là 4 lần. Từ ngày 1-1-2019, tỉ lệ này được giảm đối với lĩnh vực sản xuất còn 4 lần và các lĩnh vực còn lại là 3 lần. 
Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Phạm Đình Thi - vụ trưởng Vụ Chính sách thuế, Bộ Tài chính - cho biết nếu đề xuất này được chấp thuận và áp dụng vào thực tế, chi phí lãi vay mà DN được khấu trừ trước khi tính thuế thu nhập DN chỉ nằm trong tỉ lệ này, còn khoản chi lãi vay vượt trên tỉ lệ này sẽ không được khấu trừ.
- Nhiều DN có vốn chủ sở hữu rất ít nhưng vay vốn quá nhiều, gấp nhiều lần vốn chủ sở hữu để đầu tư dự án có quy mô hoành tráng, trong đó có những dự án đầu tư hàng ngàn tỉ đồng - chủ yếu từ vốn vay - nhưng không có lãi, thậm chí lỗ triền miên.* DN vay vốn để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, vì sao chi phí lãi vay bị khống chế, thưa ông?
Tình trạng này dẫn đến nguy cơ mất an toàn tài chính của DN, gây rủi ro rất lớn cho khách hàng cũng như nền kinh tế.
Tuy nhiên, do Luật thuế thu nhập DN hiện hành cho phép toàn bộ chi phí lãi vay được tính vào chi phí hợp lý, hợp lệ và được khấu trừ nên cơ quan quản lý thiếu công cụ để hạn chế chuyện DN vay vốn quá nhiều.
Do đó, việc khống chế khoản chi phí lãi vay được khấu trừ căn cứ theo tỉ lệ vốn vay trên vốn chủ sở hữu không chỉ nhằm đảm bảo an toàn tài chính cho DN nói riêng mà cả nền kinh tế nói chung.
* Các DN thuộc lĩnh vực nào hoạt động chủ yếu vào vốn đi vay và có nguy cơ rủi ro cao?
- Phần lớn DN ngành xây dựng, bất động sản có số vốn đi vay lớn gấp nhiều lần vốn chủ. Ngay cả các DN nhà nước cũng có tình trạng này.
Qua số liệu thống kê sơ bộ 57/85 tập đoàn, tổng công ty 100% vốn nhà nước tính đến hết năm 2014, có hai DN (một DN kinh doanh xăng dầu và một DN xây dựng) có tỉ lệ dư nợ vay trên vốn chủ sở hữu lớn hơn năm lần.
Tức là vốn chủ sở hữu chỉ có 1 đồng mà đi vay những hơn 5 đồng để sản xuất kinh doanh. Có 6 DN ngành xây dựng có tỉ lệ này từ 3-5 lần, số còn lại có tỉ lệ dưới 3 lần. Ngoài ra, các dự án BOT nhiệt điện có vốn FDI, tỉ lệ này là 4 lần.
Đặc biệt, nhiều DN có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản, thương mại, dịch vụ thường xuyên báo lỗ dù không ngừng mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh và doanh thu luôn tăng trưởng từng năm.
Qua xem xét báo cáo tài chính của DN, chúng tôi thấy nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng thua lỗ của các DN một phần là do chi phí tài chính quá lớn. Đó là chi phí trả tiền lãi vay cho công ty mẹ ở nước ngoài. Có nhiều DN chi phí trả tiền lãi vay vốn lên đến hàng nghìn tỉ đồng/năm.
* Với các DN trong nước có quy mô nhỏ nhưng vừa sản xuất vừa kinh doanh thương mại - dịch vụ sẽ áp dụng tỉ lệ nào cho phù hợp?
- Bộ Tài chính đang lấy ý kiến góp ý của các bộ, ngành, địa phương, chuyên gia và DN. Trong các ý kiến đóng góp, nhiều ý kiến đề nghị nên quy định một tỉ lệ chung mà không chia theo lĩnh vực để dễ thực hiện và công bằng giữa các ngành.
Cũng có nhiều ý kiến đề nghị lùi thời điểm áp dụng quy định này đến năm 2018 hoặc 2019 thay vì từ đầu năm 2016 để tránh xáo trộn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của DN.
Ngoài ra, nhiều DN cũng đề nghị chỉ nên giới hạn đối với các khoản vay dài hạn theo hợp đồng vay... Trên cơ sở đóng góp của các ý kiến, Bộ Tài chính sẽ lựa chọn phương án phù hợp nhất để trình Chính phủ.
* Quy định này sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của các DN, thưa ông?
- Tôi khẳng định rằng quy định hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế. Thực tế nhiều nước cũng có quy định khống chế chi phí lãi vay được khấu trừ căn cứ vào vốn chủ sở hữu trước khi tính thuế thu nhập DN.
Chẳng hạn, tại các nước như Đức, Úc, Nhật Bản, Ba Lan, Hà Lan... tỉ lệ vốn vay trên vốn chủ sở hữu không vượt quá 3 lần (3:1), còn tại các nước phát triển như Pháp, Mỹ, Canada... tỉ lệ này từ 1,5-2 lần...
Đặc biệt, Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) cũng khuyến nghị áp dụng tỉ lệ này nên được khống chế ở mức 3 lần.
Tuy nhiên, do đây là quy định mới nên khi áp dụng vào thực tiễn chắc chắn sẽ tác động rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của DN.
Do đó trong dự thảo luật, Bộ Tài chính cũng đề xuất luật bổ sung điều khoản cho phép Chính phủ được quy định riêng tỉ lệ vốn vay trên vốn chủ sở hữu đối với những trường hợp đặc biệt. 
* Bà Đặng Thị Bình An (chủ tịch hội đồng thành viên Công ty tư vấn thuế C&A):
Nên có lộ trình thích hợp
Nếu quy định này được áp dụng sẽ tác động rất lớn đến DN. Do đó cần có lộ trình thích hợp hơn là thực hiện từ năm 2016 để DN có thời gian chuẩn bị.
Mặt khác, tôi cho rằng không nên phân chia theo ngành kinh doanh mà nên đưa ra mức chung cho tất cả các ngành.
Bởi đa số DN của VN có quy mô vừa và nhỏ và kinh doanh đa ngành nghề. Vậy lấy tiêu thức nào để chia DN sản xuất hay DN hoạt động các ngành nghề khác?
* Bà Đặng Thị Phương Dung (phó chủ tịch Hiệp hội Dệt may VN):
DN ngành dệt may gặp khó
Các DN dệt may chủ yếu làm hàng gia công nên vốn chủ sở hữu cũng không cần nhiều, mà phần lớn sử dụng vốn vay cho hoạt động.
Qua khảo sát các DN lĩnh vực này cho thấy tỉ lệ vốn vay/vốn chủ sở hữu bình quân khoảng 6-8/1, thậm chí 10/1. Do đó việc khống chế chi phí trả tiền lãi vay theo tỉ lệ vốn vay với vốn chủ sở hữu sẽ gây rất nhiều khó khăn cho các DN dệt may.
Chúng tôi rất mong ban soạn thảo cân nhắc việc áp dụng cho các DN gia công, trong đó có dệt may.
* Ông Nguyễn Văn Tiu (tổng giám đốc Công ty CP xăng dầu Tự Lực I):
Cần có tỉ lệ đặc thù cho DN xăng dầu
Để đảm bảo nguồn hàng, theo quy định, các DN ngành xăng dầu phải có dự trữ bắt buộc lượng xăng dầu tương đương với lượng bán của 15 ngày, tối thiểu là 2.000 khối với trị giá khoảng 30 tỉ đồng.
Nếu giá xăng dầu lên cao, trị giá lượng xăng dầu dự trữ lên tới 40 tỉ đồng. Như vậy chỉ riêng khâu dự trữ, DN kinh doanh xăng dầu đã bị đọng một lượng vốn lớn, trong đó chủ yếu là vốn vay.
Từ trước đến nay toàn bộ tiền trả lãi vay đều được tính vào chi phí hợp lý, hợp lệ và được trừ trước khi tính thuế thu nhập DN. Nếu tới đây chi phí lãi vay bị khống chế, chỉ được trừ theo tỉ lệ thấp, DN sẽ gặp rất nhiều khó khăn.
Do đó, tôi đề nghị cần có quy định riêng mức khống chế chi phí lãi vay được khấu trừ cho lĩnh vực kinh doanh xăng dầu.